Luật các tổ chức tín dụng và 9 điều bạn cần biết

0
190
Luật các tổ chức tín dụng

Luật các Tổ chức tín dụng là các quy định của các tổ chức tín dụng. Đây là một tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Luật Các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung 2017 đã góp phần tạo ra khung pháp lý ổn định cho thị trường này. Dưới đây là tổng hợp 9 điểm cần biết về Luật các tổ chức tín dụng.

Tổ chức tín dụng là gì?

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc là tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân. (quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng)

Được quy định tại Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng gồm có 4 loại sau:

  • Ngân hàng: là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả những hoạt động ngân hàng. Tùy thuộc vào tính chất, mục tiêu hoạt động, ngân hàng gồm có các loại hình sau: ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng chính sách.
  • Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc các hoạt động ngân hàng theo quy định, trừ những hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng những dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng.
  • Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, doanh nghiệp siêu nhỏ.
  • Theo Luật các Tổ chức tín dụng thì quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một vài hoạt động ngân hàng theo quy định nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh, đời sống.

Đối tượng được vay vượt giới hạn

Theo quy định tại Quyết định 13/2018/QĐ-TTg, về việc tổ chức tín dụng được cho vay vượt giới hạn đối với một số đối tượng như sau:

  • Khách hàng đáp ứng đầy đủ điều kiện cấp tín dụng, không có nợ xấu trong 3 năm gần nhất liền trước với năm đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn, có hệ số nợ phải trả không được quá ba lần vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý/năm tại thời điểm gần nhất với thời điểm về đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn;
  • Khách hàng có nhu cầu vốn để thực hiện các dự án và phương án sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội như: Triển khai các dự án hay phương án ý nghĩa kinh tế – xã hội quan trọng, các chương trình và dự án Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư…
  • Dự án và phương án về đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn đã được tổ chức tín dụng thẩm định là đảm bảo khả thi, khách hàng có khả năng trả nợ, quyết định cấp tín dụng; đáp ứng những quy định hiện hành về đầu tư và xây dựng, phù hợp với kế hoạch, quy hoạch sản xuất kinh doanh và đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc là cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. (Khoản 1 Điều 3)

Điều 128 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định giới hạn cấp tín dụng như sau: Tổng mức dư nợ được cấp tín dụng của một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng thương mại; tổng mức dư nợ của một khách hàng, người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng thương mại.

Ngoài ra, để vay vượt giới hạn, các tổ chức tín dụng cũng cần phải đáp ứng một số điều kiện về cấp tín dụng hợp vốn; giới hạn và tỷ lệ đảm bảo an toàn hoạt động; việc thực hiện các trách nhiệm, nghĩa vụ trong hồ sơ…

Quy định về Luật các tổ chức tín dụng

Phân biệt tổ chức tín dụng ngân hàng và phi ngân hàng

Ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng đều là những tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính và tiền tệ, đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng và tiền tệ. Tuy nhiên, theo Luật các Tổ chức tín dụng chúng có một số điểm khác nhau cụ thể như sau:

  • Về nguồn vốn: Vốn của ngân hàng thương mại là những khoản tiền nhận gửi, các khoản tiền vay, khoản tiền tự có còn nguồn vốn của những tổ chức tài chính phi ngân hàng là vốn tự góp và các quỹ trợ cấp, tiền thu được khi phát hành cổ phiếu trái khoản…
  • Về hoạt động: Ngân hàng thương mại được nhận tiền gửi, đi vay các khoản nhỏ, cũng như cho vay các khoản lớn còn các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thì không được nhận tiền gửi, mà phải đi vay các khoản lớn và cho vay các khoản nhỏ.
  • Về vấn đề quản lý của Nhà nước: Ngân hàng thương mại phải chịu sự quản lý của Nhà nước và ràng buộc về tiền gửi dựng trữ và bảo hiểm khoản vay… không được tham gia vào thị trường chứng khoán; những tổ chức tín dụng phi thương mại không bị ràng buộc nhiều như ngân hàng thương mại và hoạt động chủ yếu là đầu tư cổ phiếu, bất động sản, thương phiếu…

Các hình thức nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng

Theo quy định tại Điều 108, Điều 112 Luật các Tổ chức tín dụng, công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính được nhận tiền gửi với những hình thức sau:

  • Nhận tiền gửi của tổ chức.
  • Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu, để huy động vốn của tổ chức

Quỹ tín dụng nhân dân được nhận tiền gửi dưới những hình thức:

  • Nhận tiền gửi của thành viên.
  • Nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên theo đúng quy định của Ngân hàng nhà nước…

Lãi suất vay ngắn hạn tối đa không quá 7,5%/năm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất thỏa thuận của khoản tiền vay không được vượt quá  mức 20%/năm trừ trường hợp luật khác có quy định liên quan khác.

Khoản 2 và khoản 3 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có nêu, tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền được thỏa thuận về lãi suất cho vay theo quy định.

Như vậy, lãi suất cho vay sẽ được thực hiện theo đúng quy định của Luật các Tổ chức tín dụng.

Theo Thông tư 14/2017/TT-NHNN, từ 01/01/2018, tổ chức tín dụng, khách hàng được thỏa thuận về mức lãi suất và phương pháp tính lãi phù hợp với quy định.

Theo đó, lãi suất cho vay được thỏa thuận dựa trên nhu cầu cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn, mức độ tín nhiệm của khách hàng. Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng, khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định.

Cụ thể, tại Điều 1 của Quyết định 1425/QĐ-NHNN quy định lãi suất cho vay ngắn hạn (khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 1 năm) như sau:

  • Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (trừ Quỹ Tín dụng nhân dân Tổ chức tài chính vi mô) áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam là 6,5%/năm.
  • Quỹ tín dụng nhân dân, Tổ chức tài chính vi mô áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa là 7,5%/năm bằng đồng Việt Nam.

Không phải pháp nhân không được vay vốn

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự chỉ bao gồm pháp nhân và cá nhân). Theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, khách hàng vay vốn tại tổ chức tín dụng phải là pháp nhân và cá nhân.

Như vậy, Luật các Tổ chức tín dụng có nêu rõ đối tượng không phải là pháp nhân như: Hộ gia đình, tổ chức khác, tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân thì không đủ tư cách chủ thể để vay vốn tại tổ chức tín dụng.

Trường hợp vay phục vụ hoạt động kinh doanh, hoạt động khác, thì khách hàng vay là cá nhân có thể vay để đáp ứng nhu cầu vốn của chính cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, hay doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh và chủ doanh nghiệp tư nhân.

Đồng thời, theo Thông tư 43/2016/TT-NHNN cũng quy định cho phép cá nhân vay vốn tiêu dùng với mục đích tiêu dùng của cá nhân và gia đình của cá nhân vay vốn.

Luật các tổ chức tín dụng mới nhất

“Sếp” ngân hàng không được kiêm nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp khác

Theo quy định tại Điều 34 Luật các Tổ chức tín dụng, các trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ gồm:

  • Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và chức danh tương đương của tổ chức tín dụng không được đồng thời là Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Tổng giám đốc (Giám đốc) hoặc những chức danh tương đương của doanh nghiệp khác.
  • Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc), Chủ tịch Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng không được đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Tổng giám đốc (Giám đốc),… của doanh nghiệp khác.
  • Tổng giám đốc (Giám đốc), hay Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) không được đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, thành viên Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp tổ chức đó là công ty con của tổ chức tín dụng…

Như vậy, lãnh đạo ngân hàng không được kiêm nhiệm làm lãnh đạo doanh nghiệp khác.

5 trường hợp ngân hàng bị đặt vào kiểm soát đặc biệt

Theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Luật các Tổ chức tín dụng, kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả và mất khả năng thanh toán.

Ngân hàng Nhà nước xem xét và đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt khi tổ chức tín dụng lâm vào một trong những trường hợp sau đây:

  • Có nguy cơ về mất khả năng chi trả;
  • Nợ không có khả năng thu hồi xảy ra nguy cơ dẫn đến mất khả năng thanh toán;
  • Hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém dựa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
  • Khi số lỗ lũy kế của tổ chức tín dụng vượt quá 50% giá trị thực của vốn điều lệ và những quỹ dự trữ ghi trong báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất;
  • Không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% trong thời hạn một năm liên tục hoặc là tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 4% trong thời hạn 6 tháng liên tục.

Căn cứ vào thực trạng tài chính, mức độ rủi ro, vi phạm pháp luật của tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước xem xét, và quyết định đặt tổ chức tín dụng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt dưới 2 hình thức: Giám sát đặc biệt hay Kiểm soát toàn diện.

Nợ xấu được xử lý như thế nào?

Nợ xấu là những khoản nợ dưới tiêu chuẩn theo quy định của các tổ chức tín dụng. Những khoản vay quá hạn trên 10 ngày sẽ được ngân hàng liệt vào nhóm dư nợ cần được chú ý. Như vậy, nợ xấu là khoản nợ mà các tổ chức tín dụng đã đến thời hạn trả nhưng không trả hoặc bị trả chậm trên 10 ngày được quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng.

Theo quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 thì những tổ chức tín dụng được bán nợ xấu dưới hình thức sau đây:

  • Tổ chức tín dụng, tổ chức mua bán, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, xử lý nợ xấu bán nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu công khai và minh bạch, theo quy định của pháp luật; giá bán phù hợp với giá thị trường và có thể cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ. (Điều 5)
  • Ngoài ra, các tổ chức mua bán và xử lý nợ xấu có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của bên bảo đảm, bên giữ tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu khi đáp ứng một số điều kiện như: Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm không phải là tài sản đang có tranh chấp…

XEM THÊM: Hạn mức tín dụng là gì? Điều cơ bản cần biết

TÓM LẠI VẤN ĐỀ: Trên đây là 9 điểm đáng chú ý của Luật các Tổ chức tín dụng. Hy vọng với bài chia sẻ ngắn trên đây, sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về nội dung này.